Chiếu sáng chiếm tới 25,3% tổng năng lượng tiêu thụ của Việt Nam. Chiếu
sáng toàn cầu chiếm 19% tổng điện năng tiêu thụ trên thế giới.
Chiếu sáng chiếm tới 25,3% tổng năng lượng tiêu thụ của Việt Nam. Chiếu
sáng toàn cầu chiếm 19% tổng điện năng tiêu thụ trên thế giới. Do nhận
thức và mối quan tâm về vấn đề biến đổi khí hậu ngày càng cao, hiệu suất
năng lượng được xem là giải pháp chính cho mục tiêu giảm phát thải. Vì
chiếu sáng chiếm tỷ lệ lớn nên nhu cầu về thiết bị chiếu sáng hiệu suất
cao tăng lên đáng kể, phần lớn là nhờ những nỗ lực phối hợp của các nhà
tài trợ lớn trong việc thúc đẩy phát triển thiết bị chiếu sáng hiệu suất
cao. Ví dụ, Ngân hàng phát triển Châu á (ADB) đang triển khai chương
trình phân phối 30 triệu bóng đèn compact (CFL) tại Pakistan và chương
trình phân phối 22 triệu bóng đèn compact (CFL) tại Philipines.
Tuy nhiên, nhu cầu về các thiết bị chiếu sáng hiệu suất cao tăng lên sẽ
làm tăng áp lực đối với các nhà sản xuất trong việc nâng cao hiệu quả và
hiệu suất năng lượng cho thiết bị của mình. Ví dụ, gần đây Bộ Năng
Lượng (DOE) Mỹ đã treo giải thưởng 10 triệu đô la và một loạt các dự án
chiếu sáng của chính phủ hỗ trợ cho các công ty sản xuất thiết bị chiếu
sáng mà có thể sản xuất đèn LED có chất lượng và mức độ chiếu sáng tương
đương với đèn sợi đốt 60W nhưng chỉ tiêu thụ 10W.
Việc nâng cao chất lượng các sản phẩm chiếu sáng, vì thế sẽ hứa hẹn mang
lại thị phần lớn hơn cho các nhà sản xuất biết đầu tư vào nghiên cứu
& phát triển (R&D) để sản xuất các sản phẩm chiếu sáng chất
lượng cao.
Hiện nay, một số nhà máy Việt nam sản xuất và cung cấp các sản phẩm
chiếu sáng hiệu suất cao cho thị trường trong nước và quốc tế. Điều đáng
chú ý là ngành chiếu sáng trong nước là một lĩnh vực mang lại nhiều
triệu đô la và có thể làm giảm áp lực đối với việc cung cấp năng lượng
cũng như góp phần đáng kể làm giảm phát thải nhà kính. Dự kiến, giá trị
xuất khẩu của các nhà sản xuất chiếu sáng trong nước có thể tăng 20% -
30% từ việc nâng cao chất lượng sản phẩm với giá thành hợp lý.
Tuy nhiên có một số thách thức mà các nhà sản xuất trong nước sẽ phải
đối mặt trong những ngành sản xuất dễ sinh lợi nhưng có tính cạnh tranh
cao, cụ thể là:
• Trình độ công nghệ: Phần lớn các thiết bị chiếu sáng hiệu suất cao của
Việt Nam mới ở trình độ trung bình thấp. Khi xem xét khuynh hướng phát
triển hướng tới việc sử dụng các thiết bị chiếu sáng hiệu suất cao chất
lượng tốt, các nhà sản xuất của Việt nam có thể sẽ mất đi những cơ hội
về thị phần ở Châu Âu và Châu Mỹ nếu họ không theo kịp tốc độ phát triển
công nghệ.
• Một thách thức khác mà ngành chiếu sáng trong nước gặp phải là sự cạnh
tranh không tương xứng của các sản phẩm nhập khẩu và sản xuất trong
nước với chất lượng thấp, giá rẻ. Sự tràn ngập phi pháp của các sản phẩm
giá rẻ này làm thị trường bị đảo lộn thêm bởi những khách hàng không
thể phân biệt được lợi ích của sản phẩm chất lượng cao.
Bộ Công Thương (MOIT) đã bắt đầu giải quyết vấn đề này bằng cách đưa ra
tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng tối thiểu (MEPS) và chương trình chứng
nhận, dán nhãn sản phẩm. Theo đó, hầu hết các sản phẩm chiếu sáng sản
xuất trong nước có chất lượng tốt đã được công nhận thông qua việc cấp
chứng chỉ và dán nhãn tiết kiệm năng lượng. Tuy vậy, hiện nay các thiết
bị và cơ sở hạ tầng dùng để đo lường, kiểm chuẩn tại Việt Nam vẫn chưa
đầy đủ để có thể hỗ trợ cho việc thực hiện hiệu quả chương trình dán
nhãn và tiêu chuẩn.
Một điểm nữa không kém phần quan trọng là ngành chiếu sáng quốc tế đang
thay đổi nhanh chóng và thị trường trở nên cạnh tranh hơn. Hàng năm, có
nhiều loại đèn chiếu sáng hiệu suất cao được phát triển và đưa ra thị
trường. Trong khi đó, sản xuất bóng đèn chiếu sáng hiệu suất cao và các
thiết bị phụ trợ đi kèm trong nước được xem là cơ sở thiết yếu cho việc
chuyển đổi thị trường về lâu dài và có vẻ như, các nhà sản xuất trong
nước không đủ năng lực để lập ra một kế hoạch đổi mới công nghệ nhằm
theo kịp nhu cầu của thị trường hiện tại.
Dự án VEEPL hỗ trợ nâng cao chất lượng các thiết bị chiếu
sáng sản xuất trong nước.
Dự án Chiếu sáng công cộng hiệu suất cao tại Việt Nam (VEEPL) là nỗ lực
chung giữa Quỹ Môi trường Toàn cầu (GEF) và các đối tác Việt Nam, nhằm
mục đích khuyến khích việc ứng dụng các hoạt động tiết kiệm năng lượng
trong Chiếu sáng công cộng tại Việt Nam, thông qua đó làm giảm phát thải
khí nhà kính trong lĩnh vực công.
Kể từ giai đoạn khởi động năm 2006, dự án VEEPL đã có nhiều nỗ lực hỗ
trợ các nhà sản xuất sản phẩm chiếu sáng trong nước, cùng với những sáng
kiến của họ để nâng cao chất lượng sản phẩm. Với sự hỗ trợ kỹ thuật của
dự án VEEPL, 04 nhà sản xuất trong nước bao gồm: Ralaco, Điện Quang,
VINAKIP và HAPULICO đã đầu tư kinh phí, nhân lực vào lĩnh vực nghiên cứu
và phát triển (R&D). Kết quả là, chất lượng của một nhóm sản phẩm
được chọn đã được cải thiện đáng kể, như: đèn CFL công suất cao, các
choá đèn chiếu sáng, chấn lưu cho các đèn huỳnh quang và một vài trong
số đó đã giúp các nhà sản xuất có thể đạt được chứng nhận hiệu suất quốc
gia và quốc tế cho sản phẩm của mình
GS. TS. PRAMOHT UNHAVAITHAYA và GS. TS. GUAN FUMIN, chuyên gia tư vấn
quốc tế, khảo sát thực trạng sản xuất và tiến hành trợ giúp kỹ thuật cho
công ty bóng đèn phích nước Rạng đông (RALACO) nhằm nâng cao chất lượng
đèn huỳnh quang compact công suất lớn.
Dự án VEEPL cũng hỗ trợ cho các phòng thí nghiệm hiện có ở Việt Nam
trong việc nâng cấp thiết bị kiểm chuẩn để có thể cung cấp các dịch vụ
thí nghiệm kiểm chuẩn đáng tin cậy cho các nhà sản xuất trong và ngoài
nước. Bên cạnh đó, để đáp ứng yêu cầu từ MOIT, dự án VEEPL đã thuê
chuyên gia nghiên cứu xây dựng “Kế hoạch đầu tư xây dựng phòng thí
nghiệm và chứng nhận quốc gia nhằm đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về thử
nghiệm thiết bị chiếu sáng theo các quy trình và tiêu chuẩn quốc tế”.
Những vấn đề cần được xử lý:
Trong khi các nhà sản xuất đánh giá rằng, sự hỗ trợ kỹ thuật của dự án
VEEPL trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm là rất có ý nghĩa. Hỗ trợ
của dự án VEEPL cho việc phát triển công nghệ và nâng cao chất lượng sản
phẩm, một mặt còn là yếu tố dẫn đến sự thay đổi của các nhà sản xuất
trong nước, điều đó chỉ ra rằng, không có dự án VEEPL thì những thay đổi
tích cực này sẽ không thể bền vững trong tương lai.
Vẫn có một số vấn đề cần được xử lý nhằm đảm bảo rằng các nhà sản xuất
trong nước đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển đổi thị trường theo
hướng chiếu sáng hiệu suất cao, cụ thể như sau:
• Thiếu một tầm nhìn rõ ràng về việc làm sao để ngành sản xuất
thiết bị chiếu sáng có thể phát triển trong một tương lai gần.
Vẫn chưa có thông tin liên quan đến việc ngành sản xuất thiết bị chiếu
sáng sẽ phản ứng như thế nào đối với thị trường mới nổi cho các sản phẩm
hiệu suất cao. Bởi vậy rất khó khăn cho các nhà lập chính sách, những
người cần biết nhu cầu phát triển công nghệ trong bối cảnh lợi ích quốc
gia (đối với việc bảo tồn năng lượng và làm giảm biến đổi khí hậu)
• Thiếu năng lực quốc gia trong việc nghiên cứu và phát triển
(R&D) công nghệ chiếu sáng. Năng lực R&D của ngành
công nghiệp này tại Việt Nam chưa được biết đến và còn yếu. Phần lớn
nhân viên kỹ thuật và các kỹ sư chuyên ngành công nghệ chiếu sáng đang
làm việc trong các nhà máy. Chỉ có một vài viện nghiên cứu như IMS và
HUT thể hiện có kinh nghiệm trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, hầu hết nhân
viên kỹ thuật làm việc cho các nhà sản xuất trong nước không có cơ hội
được đào tạo đầy đủ hoặc tiếp xúc với những công nghệ chiếu sáng mới
nhất.
• Thiếu chính sách khuyến khích các nhà sản xuất trong nước đầu
tư vào lĩnh vực R&D thiết bị chiếu sáng hiệu suất cao. Mặc
dù dự án VEEPL đã chỉ ra khoản lợi nhuận thu về là rất lớn từ việc đầu
tư nâng cao chất lượng sản phẩm, một số người cho rằng, không có các
chính sách khuyến khích để các cơ sở sản xuất trong nước thực hiện đầu
tư nghiêm túc trong lĩnh vực R&D phục vụ chiến lược kinh doanh dài
hạn của họ.
• Không có đầu tư vốn công cộng hoặc chính sách công cho việc
cải tiến công nghệ sản xuất thiết bị chiếu sáng. Thiết bị chiếu
sáng là hàng hoá tư nhân. Tuy nhiên, tiết kiệm năng lượng và giảm khí
thải CO2 từ việc tiết kiệm này sẽ mang lại lợi ích cho toàn xã hội. Bởi
vậy, đầu tư công ích cho việc phát triển công nghệ hiệu suất cao để giúp
các nhà máy sản xuất ra thiết bị hiệu quả hơn phục vụ nhu cầu thị
trường là điều có thể hiểu được. Ở Việt Nam vẫn chưa thực hiện được điều
này.
Từ bối cảnh nêu trên, dự án VEEPL nhận thấy có một nhu cầu thiết yếu về
đầu tư mang tính chiến lược và dài hạn từ phía chính phủ về nâng cao
năng lực của Việt Nam trong phát triển công nghệ sản xuất nguồn sáng
cũng như các thiết bị phụ trợ để duy trì một thị trường mạnh cho các sản
phẩm chiếu sáng công cộng hiệu suất cao và tính cạnh tranh của nghành
chiếu sáng trong nước.
Do đó, điều quan trọng là toàn bộ các thông tin và dữ liệu cần thiết
phải được thu thập, phân tích làm cơ sở tư vấn chiến lược và đề xuất
chính sách liên quan tới các bên tham gia, bao gồm: các nhà sản xuất
trong nước, viện nghiên cứu, các cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm phát
triển công nghệ và biến đổi khí hậu.
Đối tượng tiến hành đánh giá R&D là công nghệ chiếu sáng Việt Nam và
đưa ra những đề xuất chiến lược nhằm đảm bảo đầu tư dài hạn trong việc
phát triển công nghệ cho ngành chiếu sáng hiệu suất cao tại Việt Nam.
Trung tâm Nghiên cứu – Tư vấn Chiếu sáng Đô thị (ULC) đã được Dự án
Chiếu sáng Công cộng Hiệu suất cao tại Việt Nam (VEEPL) lựa chọn làm đơn
vị cung cấp dịch vụ tư vấn để thực hiện hợp đồng phụ (mã số B16): “Xác
định những bất cập trong quá trình phát triển công nghệ chiếu sáng hiện
đại ở Việt Nam và đưa ra những khuyến nghị các chính sách hỗ trợ đổi
mới, phát triển công nghệ chiếu sáng hiệu suất cao”.
Hội thảo khởi động lấy ý kiến đóng góp vào nội
dung, kế hoạch và tiến độ thực hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn cho hợp
đồng phụ B16 tổ chức ngày 22-5-2010 tại Hà Nội.
Ngày 22 tháng 5 năm 2010, tại Hà Nội, Trung tâm Nghiên cứu – Tư vấn
chiếu sáng Đô thị (ULC), đã tổ chức Hội thảo khởi đông nhằm lấy ý kiến
đóng góp vào nội dung, kế hoạch và tiến độ thực hợp đồng cung cấp dịch
vụ tư vấn nêu trên. Đại diện Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và
Công nghệ, đại diện Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng 1
(Quatest1) thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, đại diện Chương trình mục
tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả thuộc bộ Công
thương, các tổng giám đốc và các cán bộ kỹ thuật của các nhà sản xuất
thiết bị chiếu sáng lớn trong nước như công ty bóng đèn phích nước Rạng
đông (Ralaco), công ty chiếu sáng và thiết bị Đô thị Hà Nội (Hapulico),
công ty bóng đèn Điên Quang v.v. , công ty chiếu sáng công cộng thành
phố Hồ Chí Minh, đại diện lãnh đạo các Viện nghiên cứu và Đào tạo - viện
Vật lý kỹ thuật, trường ĐHBK Hà Nội thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, Viện
Khoa học Vật liệu thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Cập nhật mới nhất lúc : 12 : 39 : 35, 29 / 06 / 2010
|